Kế toán quỹ dự phòng tiền lương

Tìm kiếm trên công cụ google với từ khóa “quỹ dự phòng tiền lương”, không khó để bạn bắt gặp các bài viết với tiêu đề rất kêu:
Cách hạch toán trích lập quỹ dự phòng tiền lương 133 và 200
Quy định về trích lập quỹ dự phòng tiền lương – Kế Toán Lê Ánh
Cách hạch toán trích lập quỹ dự phòng tiền lương 2018 theo TT200

Và bạn biết điểm thú vị trong nội dung của các bài viết này là gì không? Đó là nội dung liên quan tới hướng dẫn hạch toán kế toán đều HOÀN TOÀN SAI.

Mặc dù tiêu đề bài viết là về “Cách hạch toán trích lập quỹ dự phòng tiền lương 133 và 200”, tuy nhiên nội dung bài viết được đăng tải tại website của Kế toán Thiên Ưng cũng nói rằng:
“Lưu ý: Hiện tại chưa có văn bản cụ thể nào hướng dẫn về hạch toán trích lập quỹ dự phòng tiền lương. Dưới đây là chia sẻ của Kế toán Thiên Ưng để các bạn tham khảo nhé”

Như vậy, nội dung hướng dẫn hạch toán kế toán hoàn toàn là các suy luận mang tính xét đoán của Kế toán Thiên Ưng, không hề dựa vào các quy định của chuẩn mực hoặc thông tư kế toán. Như vậy, việc tiêu đề bài viết nói rằng các hướng dẫn hạch toán kế toán này tuân thủ theo các quy định của Thông tư 200 và Thông tư 133 có phải là đang gây hiểu lầm cho bạn đọc hay không? Khi mà mọi người sẽ hiểu rằng các hướng dẫn này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của thông tư kế toán?

Tệ hơn nữa, Kế toán Lê Ánh và Kế toán Đức Minh chỉ đưa ra hướng dẫn hạch toán, hoàn toàn không đưa ra lưu ý đối với người đọc như Kế toán Thiên Ưng đã làm. Vậy các trung tâm kế toán này dựa vào cơ sở gì để nói rằng các hướng dẫn hạch toán kế toán được đăng tải trên website của họ là đúng?

Thực tế, điểm chung của các bài viết hướng dẫn hạch toán trích lập quỹ dự phòng tiền lương đó là họ đều trích dẫn các quy định tại Thông tư 96/2015/TT-BTC, và như tất cả chúng ta đều biết, Thông tư 96/2015 là thông tư hướng dẫn về thuế TNDN, không phải thông tư quy định về kế toán. Việc hạch toán kế toán cần tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam. Giữa kế toán và thuế vẫn luôn tồn tại những điểm khác biệt, và công việc của người làm kế toán là phải nhận biết được các điểm khác biệt này.

Quy định tại luật thuế TNDN cho phép doanh nghiệp trích lập quỹ dự phòng tiền lương khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định, theo quy định tại Thông tư 96/2015/TT-BTC như hướng dẫn của các bài viết trên. Tuy nhiên, Thông tư 200/2014/TT-BTC hoàn toàn không hề có bất kỳ quy định nào liên quan tới việc trích lập quỹ dự phòng tiền lương.

Như vậy, người làm kế toán cần hết sức thận trọng trong trường hợp này. Việc Thông tư 200 không có quy định trích lập dự phòng tiền lương không đồng nghĩa với việc Thông tư cho phép hoặc không cho phép việc trích lập này. Trong trường hợp các quy định của Thông tư là chưa thực sự rõ ràng, chúng ta có thể tham khảo các hướng dẫn của chuẩn mực kế toán để xác định việc ghi nhận kế toán một cách phù hợp nhất.

Dự phòng phải trả thuộc phạm vi điều chỉnh của chuẩn mực kế toán số 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng.

Chuẩn mực định nghĩa dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian.

Như vậy, một khoản mục chỉ thỏa mãn điều kiện là một khoản dự phòng khi khoản mục này là một khoản nợ phải trả. Chuẩn mực định nghĩa nợ phải trả là nghĩa vụ nợ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện đã qua và việc thanh toán khoản phải trả này dẫn đến sự giảm sút về lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.

Điều 11 của chuẩn mực bổ sung thêm cho điều kiện trên về nguyên tắc ghi nhận của khoản dự phòng:
“Một khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi thoả mãn các điều kiện sau:
a) Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra;
b) Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ; và
c) Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.”

Như vậy, để một khoản mục thỏa mãn điều kiện ghi nhận dự phòng phải trả, doanh nghiệp phải:
– Có nghĩa vụ nợ hiện tại. Nghĩa vụ này có thể là nghĩa vụ pháp lý, hoặc nghĩa vụ liên đới; và
– Nghĩa vụ này phát sinh từ một sự kiện đã xảy ra.

Việc hiểu như thế nào là nghĩa vụ nợ hiện tại, nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ liên đới có ý nghĩa rất quan trọng, trong nhiều trường hợp, để xác định việc doanh nghiệp có hay không một khoản mục phải trả (hay dự phòng) trên báo cáo tình hình tài chính. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ không đề cập sâu vào vấn đề trên.

Quay trở lại với vấn đề quỹ dự phòng tiền lương, dựa theo các hướng dẫn của chuẩn mực, chúng ta có thể thấy rằng:

– Chưa có sự kiện nào xảy ra trong quá khứ. Việc trích lập quỹ dự phòng tiền lương là để đảm bảo cho việc thanh toán lương trong tương lai. Thực tế, doanh nghiệp chưa hề nhận được dịch vụ do người lao động cung cấp. Điều kiện về sự kiện xảy ra trong quá khứ như vậy chưa được thỏa mãn.

– Do chưa có bất kỳ sự kiện nào xảy ra trong quá khứ, doanh nghiệp cũng hoàn toàn không hề có bất kỳ một nghĩa vụ pháp lý hay nghĩa vụ liên đới nào phát sinh từ các sự kiện này. Và do vậy, điều kiện về nghĩa vụ nợ hiện tại cũng không được thỏa mãn.

Như vậy, theo quy định của chuẩn mực kế toán số 18, “quỹ dự phòng tiền lương” của doanh nghiệp theo quy định của luật thuế TNDN hoàn toàn không đủ điều kiện ghi nhận dự phòng phải trả trên báo cáo tài chính. Tất cả các hướng dẫn hạch toán kế toán ghi nhận việc trích lập quỹ dự phòng này vào tài khoản 352 – Dự phòng phải trả đều là các hướng dẫn hạch toán sai hoàn toàn về mặt chuẩn mực kế toán.

Lời kết
Tôi không nghĩ sẽ có nhiều người tiếp cận được bài viết này, cũng như nội dung bài viết sẽ khó có thể cạnh tranh với bài viết của các trung tâm kế toán trên kết quả tìm kiếm google. Tôi cũng không mong đợi các trung tâm kế toán sẽ có động thái sửa lại các nội dung hướng dẫn của họ. Có thể các bạn đọc cũng cảm thấy bài viết này không thực sự quan trọng, điều đó không sao hết. Điều quan trọng đối với tôi là đã viết lên những điều đúng đắn, và nếu như có điều gì cần ghi nhớ sau bài viết này, các bạn hãy học cách để tự bảo vệ mình trước các nội dung trên internet. Hãy học cách suy xét mọi việc một cách kỹ lưỡng, trước khi lựa chọn tiếp nhận các thông tin mới.

Bonus
Dưới đây là ý kiến kiểm toán của Công ty TNHH KPMG Việt Nam đối với BCTC hợp nhất năm 2017 của Tổng Công ty Truyền thông Đa Phương Tiện, trong đó KPMG Việt Nam đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ đối với khoản trích lập quỹ dự phòng tiền lương như sau:
“Việc ghi nhận quỹ dự phòng tiền lương này trên BCTC hợp nhất của Tổng công ty là chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán số 18 – Dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng do Tổng công ty và Công ty con không có nghĩa vụ nợ hiện tại với người lao động tại thời điểm báo cáo.”

Các bạn có thể tải bản scan của BCTC hợp nhất tại đây.

Cập nhật ngày 04/08/2020:

Cám ơn các anh chị đã quan tâm tới bài viết này. Hiện tại, khi tìm kiếm thông tin về quỹ dự phòng tiền lương thì đây là một trong số các bài viết được hiển thị trên top đầu kết quả tìm kiếm của google. Điều này cho thấy vẫn có rất nhiều người quan tâm tới việc trích lập quỹ dự phòng tiền lương theo quy định của luật thuế TNDN. Ở trên chúng ta đã xét theo góc độ kế toán rồi, vậy còn dưới góc độ của thuế thì sao?

Phần lớn chúng ta vẫn chưa hiểu đúng về quỹ dự phòng tiền lương này theo quy định của luật thuế TNDN. Nói một cách chính xác, dự phòng tiền lương không nhằm mục đích để ghi tăng chi phí của doanh nghiệp, mà chỉ nhằm mục đích gia hạn thời hạn thanh toán tiền lương từ 3 tháng lên 6 tháng.

Tổng chi phí lương được trừ trong kỳ không bao giờ vượt quá chi phí lương thực tế phát sinh tại doanh nghiệp, cho dù có thực hiện dự phòng tiền lương hay không.

Hãy thử nói chuyện với nhau một cách logic mà xem. Có những khoản chi phí đã thực tế phát sinh tại doanh nghiệp, nhưng chưa có đủ hồ sơ chứng từ thì cơ quan thuế còn bắt hoãn lại, tính vào chi phí được trừ của năm sau. Rồi chi phí lương của doanh nghiệp, có đầy đủ bảng tính lương, là chi phí thực tế phát sinh, nhưng tới hạn quyết toán thuế mà chưa chi còn chẳng được cơ quan thuế chập nhận là chi phí được trừ.

Vậy thì hà cớ gì mà mọi người tin rằng, một khoản chi phí đâu đâu, chẳng có bất kỳ một hồ sơ chứng từ gì cả, cũng chẳng hề thực tế phát sinh tại doanh nghiệp, với cái tên gọi mù mờ là “dự phòng tiền lương” lại được cơ quan thuế chấp nhận là chi phí được trừ?

Quỹ dự phòng tiền lương là một trường hợp để doanh nghiệp có thể chứng minh cho cơ quan quản lý thấy được rằng, mặc dù tại thời điểm quyết toán, do một số tình hình khó khăn nên công ty chưa thanh toán được tiền lương trong năm cho người lao động. Tuy nhiên, công ty đã có kế hoạch dự phòng về mặt tài chính, đảm bảo việc chi trả lương cho người lao động, và đã thanh toán toàn bộ tiền lương cho người lao động trong năm trước thời điểm 30/06. Vì vậy, nó mới có tên gọi là quỹ “dự phòng” tiền lương.

Còn để rõ hơn thì hãy cùng xem xét hai ví dụ sau:

1. Ví dụ 1

Trong năm 2020, Công ty A phát sinh tổng chi phí tiền lương là 10 tỷ đồng, trong đó tổng số tiền đã thanh toán cho người lao động tính tới thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế là 8 tỷ đồng. Công ty A trích lập quỹ dự phòng tiền lương với tỷ lệ 17% trên quỹ tiền lương thực hiện với giá trị là 1.360.000.000 đồng (8 tỷ đồng x 17%).

Tổng chi phí lương được trừ trong năm 2020 của Công ty A là 9.360.000.000 đồng, bao gồm 8 tỷ đồng tiền lương đã phát sinh và thực chi, và 1.360.000.000 đồng chưa chi nhưng đã được dự phòng để đảm bảo khả năng chi trả. Số tiền này phải được thanh toán cho người lao động trước ngày 30/06/2020.

Phần còn lại với giá trị 640 triệu đồng là giá trị chưa được công ty chi trả tính tới thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế, đồng thời không được dự phòng trong khoản 17% và do vậy, không được tính vào chi phí được trừ trong năm 2020.

Ví dụ 2:

Tương tự ví dụ 1, tuy nhiên số tiền mà Công ty A đã thanh toán lương tới thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế là 9 tỷ đồng. Lúc này, nếu Công ty trích lập dự phòng tiền lương với tỷ lệ 17% thì giá trị dự phòng là 1.530.000.000 đồng (9 tỷ đồng x 17%).

Tổng chi phí lương được tính vào chi phí được trừ của Công ty A trong năm 2020 là 10 tỷ đồng, bao gồm 9 tỷ đồng đã chi và 1 tỷ đồng chưa chi nhưng đã được dự phòng. Công ty không ghi nhận chi phí tiền lương là 10.530.000.000 đồng.

Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Oldest
Newest
Inline Feedbacks
View all comments
Linh Trần

Bài viết chia sẽ của Nguyen Long phân tích rất hay. Mình còn một thắc mắc nhờ anh hỗ trợ phân tích thêm, là nếu như không đáp ứng điều kiện ghi nhận dự phòng phải trả thì kế toán với quyết định trích lập quỹ dự phòng lương của DN được xử lý như thế nào để phù hợp (vì hiểu theo nguyên tắc dồn tích nghiệp vụ này có thể phải ghi nhận).

Trân trọng

ĐỪNG BỎ LỠ!
Đăng ký nhận bản tin từ chúng tôi

Nhận thông báo để không bỏ lỡ các bài viết mới cùng các chương trình chia sẻ chuyên môn từ chúng tôi!

Invalid email address
Email được gửi vào sáng thứ hai hàng tuần khi có bài viết mới. Bạn hãy kiểm tra hòm thư quảng cáo (promotions) nhé.
Share via
Copy link
Powered by Social Snap